Trên báo chí Việt Nam, nhiều loại tin sai thường được gọi chung là “tin giả”. Trong nghiên cứu và hoạch định chính sách, người ta phân loại kỹ hơn để biết mình đang đối phó với hiện tượng nào. Mục từ này dùng nghĩa hẹp của thông tin sai lệch, là một trong ba loại thuộc khung rối loạn thông tin do Hội đồng châu Âu công bố năm 2017.
Thông tin sai lệch được xác định theo tiêu chí nào?
Theo hai câu hỏi: thông tin có sai không, và có ý định gây hại không (Wardle & Derakhshan, 2017). Thông tin sai lệch là trường hợp nội dung sai nhưng không được tạo ra để gây hại (Wardle & Derakhshan, 2017).
Thông tin sai lệch khác gì thông tin sai lệch có chủ đích và thông tin gây hại?
Khác ở ý định và tính đúng sai của nội dung, như bảng dưới đây.
| Loại | Nội dung | Ý định gây hại |
|---|---|---|
| Thông tin sai lệch (misinformation) | Sai | Không |
| Thông tin sai lệch có chủ đích (disinformation) | Sai | Có |
| Thông tin gây hại (malinformation) | Dựa trên sự thật | Có |
Tổng hợp từ Wardle và Derakhshan (2017).
Theo cách phân loại này, cùng một nội dung có thể thuộc loại khác nhau tùy người chia sẻ: người cố ý tạo tin sai để gây hại là đang tạo ra thông tin sai lệch có chủ đích, còn người tin là thật rồi chia sẻ lại là đang lan truyền thông tin sai lệch.
Vì sao người làm truyền thông cần phân biệt?
Vì cách phản hồi phù hợp có thể khác nhau khi người chia sẻ có hoặc không có ý định gây hại. Cơ chế lan truyền và các cách ứng phó được phân tích trong bài thông tin sai lệch khoa học: cơ chế lan truyền và cách ứng phó và bài vì sao tin giả sức khỏe lan nhanh trên mạng xã hội.
Câu hỏi thường gặp
Thông tin sai lệch có phải là tin giả không?
Trong cách nói thông thường, “tin giả” thường gộp mọi loại tin sai. Mục từ này dùng nghĩa hẹp theo Wardle và Derakhshan (2017): thông tin sai nhưng không cố ý gây hại.
Chia sẻ nhầm tin sai có bị xem là thông tin sai lệch không?
Có. Theo định nghĩa, nội dung sai được chia sẻ mà không có ý định gây hại thuộc nhóm thông tin sai lệch (Wardle & Derakhshan, 2017).