Theo UNESCO, phụ nữ chiếm 31,7% số nhà nghiên cứu trên thế giới vào năm 2021, tức chưa đến một phần ba (UNESCO, 2024). Khoảng cách lớn dần ở các bậc cao: tại Liên minh châu Âu, phụ nữ chiếm 48% số người tốt nghiệp tiến sĩ nhưng chỉ giữ 30% vị trí giáo sư bậc cao nhất (European Commission, 2024). Hình ảnh “đường ống rò rỉ” (leaky pipeline) dùng để mô tả hiện tượng tỷ lệ nữ hao hụt dần qua từng chặng sự nghiệp như vậy.
Tóm tắt nhanh:
- Tỷ lệ nữ nhà nghiên cứu toàn cầu là 31,7% (2021, 147 quốc gia), với khác biệt lớn giữa các khu vực (UNESCO, 2024).
- Phụ nữ không “kém” về năng suất hằng năm; khoảng cách lớn chủ yếu do sự nghiệp ngắn hơn và tỷ lệ rời bỏTỷ lệ rời bỏ (Churn rate)Tỷ lệ rời bỏ (churn rate) là tỷ lệ phần trăm số lượng khách hàng hoặc người đăng ký dịch vụ hủy bỏ hoặc ngừng sử dụng sản phẩm trong một khoảng thời gian xác định.Xem giải thích đầy đủ → cao hơn (Huang và cộng sự, 2020).
- Nguyên nhân đan xen: gánh nặng làm cha mẹ, định kiến trong đánh giá và môi trường làm việc; không nên quy về một lý do duy nhất.
Phụ nữ chiếm bao nhiêu trong giới nghiên cứu khoa học?
Chưa đến một phần ba nếu tính theo số người làm nghiên cứu. Bản tổng hợp năm 2024 của UNESCO cho biết tỷ lệ nữ nhà nghiên cứu toàn cầu là 31,7% năm 2021, dựa trên dữ liệu của 147 quốc gia. Con số khác nhau nhiều giữa các vùng: 49,6% ở Trung Á, nhưng 26,8% ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, và 25,9% ở Nam và Tây Á (UNESCO, 2024).
Báo cáo Khoa học UNESCO 2021 cho thấy khoảng cách rõ hơn ở các lĩnh vực dẫn dắt chuyển đổi số. Phụ nữ chiếm 44% số người tốt nghiệp tiến sĩ năm 2018, nhưng chỉ 28% người tốt nghiệp kỹ thuật, 22% người làm trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, và chưa đến một phần tư nhà nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp (UNESCO, 2021).
Cũng có tín hiệu tiến bộ. Phân tích của Elsevier cho thấy phụ nữ chiếm 41% nhà nghiên cứu đang hoạt động năm 2022, tăng từ 28% năm 2001 (Elsevier, 2024). Con số này cao hơn số liệu UNESCO vì hai nguồn đo khác nhau: một bên tính người làm nghiên cứu theo thống kê quốc gia, một bên dựa trên tác giả có công bố khoa học. Khi đọc số liệu, cần xem nguồn đo cái gì, như cách kiểm tra một nghiên cứu được chia sẻ trên mạng.
“Đường ống rò rỉ” là gì?
Đây là phép ẩn dụ mô tả việc phụ nữ có khả năng rời khỏi khoa học cao hơn nam giới ở nhiều thời điểm trong sự nghiệp (Miller & Wai, 2015). Hãy hình dung một đường ống dẫn người từ đại học đến vị trí giáo sư: nếu ống “rò” nhiều phụ nữ hơn ở mỗi chặng, càng lên cao tỷ lệ nữ càng thấp.
Số liệu She Figures 2024 của Ủy ban châu Âu minh họa điều này: phụ nữ chiếm 48% người tốt nghiệp tiến sĩ, 30% vị trí giáo sư bậc cao nhất (Grade A) và 26% người đứng đầu cơ sở nghiên cứu, đào tạo. Ở khu vực doanh nghiệp, nơi sử dụng 57% nhà nghiên cứu của EU, phụ nữ chỉ chiếm 22% (European Commission, 2024).
Đường ống rò rỉ ở chặng nào?
Câu trả lời ngắn: chủ yếu sau bậc tiến sĩ, và khác nhau theo ngành, theo nước. Phân tích 30 năm dữ liệu tại Mỹ cho thấy từ thập niên 1990, nữ cử nhân ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán) đã có khả năng học lên tiến sĩ ngang nam giới. Các tác giả kết luận ẩn dụ đường ống rò rỉ không còn mô tả đúng chặng từ cử nhân lên tiến sĩ, dù sau tiến sĩ vẫn “rò” nhiều nữ hơn ở một số ngành như khoa học sự sống (Miller & Wai, 2015).
Nghiên cứu trên hơn 1,5 triệu nhà khoa học tại 83 quốc gia, có sự nghiệp công bố kết thúc trong giai đoạn 1955-2010, cho thấy nam và nữ có năng suất công bố hằng năm tương đương. Tuy nhiên, mỗi năm khoảng 10,8% nhà khoa học nữ ngừng công bố, so với 9,0% ở nam, tức nguy cơ rời học thuật cao hơn khoảng 19,5%. Khác biệt về độ dài sự nghiệp và tỷ lệ rời bỏ giải thích phần lớn khoảng cách về tổng số công bố và ảnh hưởng (Huang và cộng sự, 2020). Nói cách khác, vấn đề nằm ở việc ai ở lại được với nghề, không phải ai làm giỏi hơn.
Vì sao đường ống lại rò rỉ?
Không có một nguyên nhân duy nhất. Các nghiên cứu chỉ ra nhiều yếu tố đan xen, và mức độ của từng yếu tố khác nhau theo bối cảnh. Dưới đây là ba nhóm có bằng chứng tương đối rõ.
Làm cha mẹ ảnh hưởng thế nào?
Một nghiên cứu theo dõi người làm STEM toàn thời gian tại Mỹ cho thấy khoảng 43% người mẹ mới và 23% người cha mới đã rời công việc STEM toàn thời gian trong vòng bốn đến bảy năm sau khi có con đầu lòng (Cech & Blair-Loy, 2019). Chênh lệch gần gấp đôi này cho thấy việc làm cha mẹ ảnh hưởng đến sự nghiệp của người mẹ nhiều hơn người cha, một khía cạnh được bàn kỹ hơn trong bài về gánh nặng tinh thần (mental load).
Định kiến trong đánh giá có thật không?
Có bằng chứng thực nghiệm. Năm 1993, sử gia khoa học Margaret Rossiter đặt tên “hiệu ứng MatildaHiệu ứng Matilda (Matilda effect)Hiệu ứng Matilda mô tả hiện tượng các nhà khoa học nữ bị phủ nhận hoặc đánh giá thấp đóng góp nghiên cứu, trong khi công trạng thường bị gán nhầm cho các đồng nghiệp nam.Xem giải thích đầy đủ →” cho việc đóng góp của phụ nữ trong khoa học bị ghi nhận thấp một cách có hệ thống, theo tên nhà hoạt động Matilda Joslyn Gage, người đã mô tả hiện tượng này từ thế kỷ 19 (Romeo, 2021). Một ví dụ thường được nhắc là nhà vật lý Lise Meitner: bà góp phần phát hiện phân hạch hạt nhân năm 1939, nhưng giải Nobel năm 1944 chỉ trao cho đồng nghiệp nam (Romeo, 2021).
Trong một thí nghiệm với 243 học viên sau đại học ngành truyền thông tại Mỹ, cùng một bản tóm tắt nghiên cứu được chấm chất lượng cao hơn khi gắn tên tác giả nam, nhất là ở chủ đề bị xem là “của nam” (Knobloch-Westerwick và cộng sự, 2013, dẫn theo Gender Action Portal, n.d.). Mức chênh không lớn, nhưng cho thấy định kiến có thể len vào cả khâu đánh giá khoa học.
Môi trường và cơ hội có vai trò gì?
UNESCO lưu ý rằng tỷ lệ nam nữ chỉ là chỉ báo gián tiếp cho bối cảnh văn hóa xã hội rộng hơn; đếm số người chưa phản ánh hết điều kiện làm việc của phụ nữ (UNESCO, 2024). Tỷ lệ nữ thấp ở khu vực doanh nghiệp (UNESCO, 2021; European Commission, 2024) cho thấy cơ hội không đồng đều giữa các môi trường nghiên cứu. Ẩn dụ đường ống cũng có giới hạn: như Miller và Wai (2015) chỉ ra, nó không mô tả đúng mọi chặng, nên cần xem xét từng giai đoạn và từng ngành cụ thể.
Việt Nam ghi nhận nhà khoa học nữ ra sao?
Việt Nam có những giải thưởng dành riêng cho nhà khoa học nữ. Giải thưởng Kovalevskaia gắn với Quỹ do GS.TS Ann Koblitz và GS.TS Neal Koblitz khởi xướng (Chính phủ Việt Nam, n.d.). Qua 41 năm (1985-2026), giải đã được trao cho 23 tập thể và 58 nhà khoa học nữ; giải năm 2025 trao cho GS.TS Trần Thị Việt Nga và tập thể nhà khoa học nữ Khoa Công nghệ thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội (VnEconomy, 2026). Giải thưởng L’Oréal-UNESCO “Vì sự phát triển Phụ nữ trong Khoa học” đã tôn vinh 38 nhà khoa học nữ trẻ Việt Nam từ năm 2009 (Hà Linh, 2024).
Bài viết chưa tìm được số liệu chính thức, cập nhật và có thể kiểm chứng về tỷ lệ nữ nhà nghiên cứu tại Việt Nam, nên không đưa ra con số ước đoán.
Truyền thông khoa học liên quan gì đến chuyện này?
Truyền thông khoa học góp phần định hình gương mặt nào được công chúng nhìn thấy như đại diện của khoa học. Trong tin về Covid-19 năm 2020, phụ nữ chỉ chiếm 27% số chuyên gia y tế được đưa lên (Macharia, 2021). Nhóm nghiên cứu tại Anh cũng cho rằng cách báo chí đưa tin có thể thu hẹp hình ảnh của công chúng về phụ nữ trong khoa học (Kitzinger và cộng sự, 2008). Bạn có thể đọc thêm vì sao phụ nữ ít xuất hiện với vai trò chuyên gia trên báo chí, cũng như cái giá học thuật của nhà khoa học làm đại chúng. Bài viết thuộc chuyên đề Bản lĩnh dịu dàng của Dy Khoa Blog.
Câu hỏi thường gặp
Có phải phụ nữ ít chọn học ngành khoa học?
Không hẳn. Phụ nữ chiếm 44% người tốt nghiệp tiến sĩ toàn cầu năm 2018 (UNESCO, 2021) và 48% ở EU (European Commission, 2024). Khoảng cách rõ nhất ở một số ngành như kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo và ở các vị trí cao.
Nhà khoa học nữ có công bố ít hơn nam không?
Tính theo năm thì tương đương. Tổng số công bố cả sự nghiệp thấp hơn chủ yếu vì sự nghiệp ngắn hơn và tỷ lệ rời bỏ cao hơn (Huang và cộng sự, 2020).
Hiệu ứng Matilda là gì?
Là tên Margaret Rossiter đặt năm 1993 cho việc đóng góp khoa học của phụ nữ bị ghi nhận thấp một cách có hệ thống (Romeo, 2021).
Điều gì nên nhớ?
Phụ nữ đã tiến gần bình đẳng ở bậc tiến sĩ, nhưng tỷ lệ vẫn giảm ở các nấc cao hơn của sự nghiệp nghiên cứu. Bằng chứng hiện có cho thấy vấn đề nằm nhiều ở việc giữ chân người làm khoa học (chia sẻ trách nhiệm chăm sóc, đánh giá công bằng, môi trường làm việc) hơn là ở năng lực. Với người làm truyền thông, việc đưa nhà khoa học nữ đến gần công chúng là một đóng góp nhỏ nhưng thực tế.
Đôi lời giới thiệu
Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa họcTruyền thông khoa học (Science communication)Truyền thông khoa học là hoạt động trao đổi thông tin khoa học giữa các nhà khoa học, nhà truyền thông và công chúng, nhằm tạo ra nhận thức, sự quan tâm, ý kiến và hiểu biết về khoa học.Xem giải thích đầy đủ → và Thu hút Công chúngThu hút công chúng (Public engagement)Thu hút công chúng là quá trình tương tác và đối thoại hai chiều giữa các nhà nghiên cứu và công chúng, tạo ra lợi ích song phương và nâng cao chất lượng khoa học.Xem giải thích đầy đủ → (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.
Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].
Tài liệu tham khảo (15 nguồn)
- Cech, E. A., & Blair-Loy, M. (2019). The changing career trajectories of new parents in STEM. Proceedings of the National Academy of Sciences, 116(10), 4182-4187. https://doi.org/10.1073/pnas.1810862116
- Chính phủ Việt Nam. (n.d.). Giải thưởng Kovalevskaia. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://chinhphu.vn/ket-qua-hoat-dong-khoa-hoc-cong-nghe/giai-thuong-kovalevskaia-10001118
- Elsevier. (2024, ngày 10 tháng 6). Latest Elsevier gender equality study reveals 20 years of progress but challenges remain for women in research and innovation. https://www.elsevier.com/about/press-releases/latest-elsevier-gender-equality-study-reveals-20-years-of-progress-but-challenges-remain-for-women-in-research-and-innovation
- European Commission, Directorate-General for Research and Innovation. (2024). She Figures 2024. https://projects.research-and-innovation.ec.europa.eu/en/knowledge-publications-tools-and-data/interactive-reports/she-figures-2024
- Gender Action Portal. (n.d.). The Matilda effect in science communication: An experiment on gender bias in publication quality perceptions and collaboration interest. Harvard Kennedy School. https://gap.hks.harvard.edu/matilda-effect-science-communication-experiment-gender-bias-publication-quality-perceptions-and
- Hà Linh. (2024, ngày 13 tháng 9). Tôn vinh 38 nhà khoa học nữ tài năng của Việt Nam. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/ton-vinh-38-nha-khoa-hoc-nu-tai-nang-cua-viet-nam-post830697.html
- Huang, J., Gates, A. J., Sinatra, R., & Barabási, A.-L. (2020). Historical comparison of gender inequality in scientific careers across countries and disciplines. Proceedings of the National Academy of Sciences, 117(9), 4609-4616. https://doi.org/10.1073/pnas.1914221117
- Kitzinger, J., Chimba, M. D., Williams, A., Haran, J., & Boyce, T. (2008). Gender, stereotypes and expertise in the press: How newspapers represent female and male scientists. UK Resource Centre for Women in Science, Engineering and Technology & Cardiff University. https://orca.cardiff.ac.uk/id/eprint/28633/
- Knobloch-Westerwick, S., Glynn, C. J., & Huge, M. (2013). The Matilda effect in science communication: An experiment on gender bias in publication quality perceptions and collaboration interest. Science Communication, 35(5), 603-625. https://doi.org/10.1177/1075547012472684 (dẫn theo Gender Action Portal, n.d.)
- Macharia, S. (Ed.). (2021). Who makes the news? 6th Global Media Monitoring Project. World Association for Christian Communication. https://whomakesthenews.org/wp-content/uploads/2021/11/GMMP2020.ENG_.FINAL_.pdf
- Miller, D. I., & Wai, J. (2015). The bachelor’s to Ph.D. STEM pipeline no longer leaks more women than men: A 30-year analysis. Frontiers in Psychology, 6, 37. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2015.00037
- Romeo, J. (2021, ngày 20 tháng 3). Erasing women from science? There’s a name for that. JSTOR Daily. https://daily.jstor.org/erasing-women-from-science-theres-a-name-for/
- UNESCO. (2021). To be smart, the digital revolution will need to be inclusive. Trong UNESCO Science Report: The race against time for smarter development. https://www.unesco.org/reports/science/2021/en/women-digital-revolution
- UNESCO. (2024). Status and trends: The gender gap in science (SC-PBS-STIP/2024/FWIS/2). https://unesco.org.uk/site/assets/files/15432/388805eng.pdf
- VnEconomy. (2026, ngày 6 tháng 3). Thủ tướng Phạm Minh Chính trao Giải thưởng Kovalevskaia tôn vinh các nhà khoa học nữ. VnEconomy. https://vneconomy.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-trao-giai-thuong-kovalevskaia-ton-vinh-cac-nha-khoa-hoc-nu.htm
Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 có từ đâu và khác gì ngày 8/3?
Ngày 20/10 có từ đâu, khác gì 8/3, và vì sao tôn vinh phụ nữ nên đi xa hơn lời chúc "xinh đẹp, đảm đang"?
Vì sao bạo lực gia đình không còn là “chuyện riêng” của mỗi nhà?
Gần 2/3 phụ nữ từng có chồng ở Việt Nam từng bị bạo lực do chồng gây ra. Vì sao im lặng không còn là lựa chọn, và có thể tìm hỗ trợ ở đâu?
Cần giải pháp truyền thông hoặc đào tạo nội bộ cho tổ chức?
Dy Khoa sẵn sàng đồng hành cùng quý doanh nghiệp, cơ quan và trường đại học trong đào tạo báo chí – marcom, quản trị khủng hoảng và truyền thông khoa học – sức khoẻ.


