Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương
Lý thuyết & Mô hình

Vì sao phụ nữ ít xuất hiện với vai trò chuyên gia trên báo chí?

Phụ nữ chỉ chiếm khoảng một phần tư tiếng nói chuyên gia trên báo chí. Vì sao, và tòa soạn có thể làm gì?

Dy Khoa
Dy Khoa
Vừa
Tranh In the Studio (Alfred Stevens, 1888) với người phụ nữ làm nghề trong xưởng vẽ, minh họa chủ đề chuyên gia nữ trên báo chí

Phụ nữ vẫn ít xuất hiện với vai trò chuyên gia trên báo chí: theo Dự án Giám sát Truyền thông Toàn cầu (GMMP) năm 2020, chỉ 24% tiếng nói chuyên gia trong tin tức là của phụ nữ (Macharia, 2021). Nguyên nhân chủ yếu không nằm ở năng lực, mà ở cấu trúc xã hội (ai đang giữ vị trí lãnh đạo) cộng với thói quen chọn nguồn của tòa soạn. Vì khoảng cách này đo được, nó cũng có thể được thu hẹp.

Tóm tắt nhanh:

  • Năm 2020, phụ nữ chiếm 25% số người xuất hiện trong tin tức tại 116 quốc gia và 24% số chuyên gia được trích dẫn (Macharia, 2021).
  • Tại Việt Nam, một nghiên cứu ghi nhận nữ lãnh đạo chỉ chiếm 14,3% lượt xuất hiện của lãnh đạo trên tám cơ quan báo chí lớn (Vũ và cộng sự, n.d.).
  • Theo dõi tỷ lệ nguồn tin và giữ danh sách chuyên gia nữ là hai cách làm đơn giản đã được áp dụng.

Phụ nữ chiếm bao nhiêu phần trong các tiếng nói chuyên gia trên báo chí?

Khoảng một phần tư trên phạm vi toàn cầu. GMMP là dự án giám sát tin tức về giới thực hiện năm năm một lần. Ở lần thứ sáu, các nhóm tại 116 quốc gia cùng phân tích tin tức trong ngày 29/9/2020 (Macharia, 2021).

Phụ nữ chiếm 25% số người xuất hiện trong tin tức và 24% số chuyên gia, tăng từ 19% năm 2015. Trong tin về Covid-19, phụ nữ chỉ chiếm 27% số chuyên gia y tế được đưa lên. Báo cáo cũng ghi nhận châu Á nằm dưới mức trung bình toàn cầu ở báo in và phát thanh, truyền hình (Macharia, 2021).

Khoảng cách còn nằm ngay trong tòa soạn. Khảo sát của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters trên 240 thương hiệu tin tức ở 12 thị trường cho thấy năm 2025 chỉ 27% tổng biên tập là nữ, trong khi phụ nữ chiếm trung bình 40% lực lượng nhà báo (Ross Arguedas và cộng sự, 2025).

Ở Việt Nam, bức tranh có khác không?

Dữ liệu còn ít, nhưng nghiên cứu hiện có cho thấy xu hướng tương tự. Nhóm nghiên cứu do Oxfam tại Việt Nam đặt hàng đã phân tích 2.168 tin bài trên VTV1, VTV24, VOV1, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VnExpress, VietNamNet và Dân trí trong ba tuần của tháng 9 và 10/2015. Trong 3.429 lượt lãnh đạo xuất hiện, nữ giới chỉ chiếm 14,3% (Vũ và cộng sự, n.d.).

Sự phân vùng theo chủ đề rất rõ: nữ lãnh đạo chiếm 40,8% ở chủ đề trẻ em và gia đình, nhưng chỉ 6,1% ở chủ đề khoa học. Không chủ đề nào đạt 50% (Vũ và cộng sự, n.d.). Cần lưu ý đây là dữ liệu về “lãnh đạo”, không hoàn toàn trùng với “chuyên gia”, và được thu thập từ năm 2015, nên chỉ nên xem là dấu hiệu tham khảo.

“Hủy diệt biểu tượng” là gì và liên quan gì đến chuyên gia nữ?

“Hủy diệt biểu tượng” (symbolic annihilation) là cách nhà xã hội học Gaye Tuchman (1978) gọi tình trạng phụ nữ vắng mặt hoặc bị thu hẹp vai trò trên truyền thông. Nhiều nghiên cứu báo chí về giới vẫn dùng khái niệm này (De Swert & Hooghe, 2010). Shor và cộng sự (2014) xem đây là vấn đề nghiêm trọng, vì cách truyền thông phản ánh đời sống góp phần duy trì cán cân quyền lực giữa hai giới.

Không chỉ số lượng, cách đưa tin cũng tạo ra những khung nhìn (framing) khác nhau. Một nghiên cứu trên 12 tờ báo quốc gia của Anh ghi nhận cứ năm nhà khoa học nam được trích dẫn mới có một nhà khoa học nữ. Khoảng một nửa số bài chân dung nhà khoa học nữ nhắc đến trang phục, vóc dáng hoặc kiểu tóc, so với khoảng một phần năm ở bài về nam giới. Nhóm tác giả cho rằng điều này có thể thu hẹp hình ảnh công chúng về phụ nữ trong khoa học (Kitzinger và cộng sự, 2008).

Vì sao tòa soạn thường tìm đến chuyên gia nam?

Đây chủ yếu là sản phẩm của cấu trúc xã hội và thói quen nghề nghiệp, hơn là ý đồ của từng người. Chính nhóm nghiên cứu tại Anh nhấn mạnh họ không cho rằng nhà báo cố tình né nguồn nữ (Kitzinger và cộng sự, 2008).

Cấu trúc xã hội ảnh hưởng thế nào?

Báo chí thường tìm người đang giữ chức vụ. Tại Canada, nhóm Gender Gap Tracker lưu ý 71% nghị sĩ là nam, nên tin chính trị tự nhiên trích dẫn nhiều nam giới hơn (Asr và cộng sự, 2021). Shor và cộng sự (2014) cũng cho rằng việc phụ nữ ít có mặt ở các vị trí nổi bật là một phần lời giải thích.

Thói quen chọn nguồn đóng vai trò gì?

Các nhà báo cho biết tìm nguồn đa dạng tốn nhiều thời gian và công sức hơn; nhóm tác giả gọi đây là một dạng ưu tiên cho những người vốn đã có tiếng nói (Asr và cộng sự, 2021). Tại Bỉ, chủ đề tin là yếu tố dự báo mạnh nhất: phụ nữ xuất hiện trong 50% tin thuộc chủ đề được xem là “của nữ”, nhưng chỉ 30% ở chủ đề “của nam”. Giới tính phóng viên chỉ có ảnh hưởng nhỏ, nên các tác giả nghiêng về “mô hình nghề nghiệp”: quy trình nghề quyết định nhiều hơn giới tính người viết (De Swert & Hooghe, 2010).

Có rào cản nào từ phía người được mời không?

Có. Việc phụ nữ bị công kích, quấy rối khi lên tiếng công khai được nêu như một yếu tố khiến khoảng cách kéo dài (Asr và cộng sự, 2021). Vì vậy, thu hẹp khoảng cách không chỉ là “mời thêm”, mà còn là bảo vệ người lên tiếng.

Người làm báo và người làm truyền thông có thể làm gì?

Bắt đầu bằng việc đếm. Dự án 50:50 khởi đầu năm 2017 tại phòng tin London của BBC: các nhóm tự theo dõi tỷ lệ người đóng góp là nữ trong nội dung của mình, đặt mục tiêu 50%, và lồng việc này vào quy trình hằng ngày nên gần như không tốn chi phí (United Nations, n.d.). Một số cách làm khác có cơ sở từ các nghiên cứu đã nêu:

  • Theo dõi nguồn tin: nhà báo khoa học Ed Yong cân bằng được nguồn tin nhờ tự ghi lại giới tính người được trích dẫn (Asr và cộng sự, 2021).
  • Giữ danh sách chuyên gia nữ theo lĩnh vực để có sẵn lựa chọn khi cần (Asr và cộng sự, 2021).
  • Mời chuyên gia nữ cả ở chủ đề “khó” như khoa học, an ninh, nơi tỷ lệ thấp nhất (Vũ và cộng sự, n.d.).
  • Viết về chuyên môn, không phải ngoại hình khi ngoại hình không liên quan đến câu chuyện (Kitzinger và cộng sự, 2008).
  • Đưa nội dung giới vào cẩm nang nghề và chương trình đào tạo báo chí, theo khuyến nghị của nghiên cứu tại Việt Nam (Vũ và cộng sự, n.d.).

Với người làm PR khoa học ở trường đại học, viện nghiên cứu hay bệnh viện, cơ hội nằm ở khâu đề cử: danh sách bạn gửi phóng viên chính là danh sách công chúng sẽ nhìn thấy. Chính các chuyên gia thường được báo chí mời bình luận cũng có thể góp phần: khi một chủ đề không phải sở trường của mình, giới thiệu một đồng nghiệp nữ đúng chuyên môn là cách đơn giản để mở rộng danh sách nguồn. Đây cũng là một mảnh ghép của câu chuyện lớn hơn về niềm tin của công chúng đối với khoa học.

Vấn đề này gắn trực tiếp với câu hỏi phụ nữ chiếm bao nhiêu trong giới nghiên cứu khoa học: càng lên cao, nhà khoa học nữ càng ít, nên nguồn chuyên gia nữ có chức danh càng mỏng. Bài viết thuộc chuyên đề Bản lĩnh dịu dàng của Dy Khoa Blog.

Câu hỏi thường gặp

Có phải vì ít phụ nữ làm chuyên gia nên báo chí ít trích dẫn?

Chỉ đúng một phần. Sự thiếu vắng phụ nữ ở vị trí lãnh đạo có góp phần (Shor và cộng sự, 2014), nhưng chi phí thời gian để tìm nguồn đa dạng cũng làm khoảng cách rộng thêm (Asr và cộng sự, 2021).

Phóng viên nữ có trích dẫn nhiều chuyên gia nữ hơn không?

Có xu hướng nhẹ. Tại Canada, bài do tác giả nữ viết có 34% nguồn là nữ, so với 25% ở bài của tác giả nam (Asr và cộng sự, 2021). Tại Bỉ, ảnh hưởng này nhỏ so với chủ đề tin (De Swert & Hooghe, 2010).

Tình hình có đang cải thiện không?

Có, nhưng chậm: tỷ lệ chuyên gia nữ tăng từ 19% (2015) lên 24% (2020) (Macharia, 2021); tỷ lệ nữ tổng biên tập trong mẫu của Viện Reuters tăng từ 24% (2024) lên 27% (2025) (Ross Arguedas và cộng sự, 2025).

Điều gì nên nhớ?

Phụ nữ ít xuất hiện với vai trò chuyên gia không phải vì họ kém hiểu biết, mà vì báo chí phản chiếu cấu trúc quyền lực hiện có và vận hành theo những thói quen khó nhận ra. Bằng chứng hiện có gợi ý thay đổi khả thi nhất nằm ở những việc nhỏ và đều đặn: đếm nguồn tin, giữ danh sách chuyên gia nữ, đề cử họ ở cả những chủ đề “khó”. Mỗi lần chọn ai lên tiếng là một lần góp phần định hình hình ảnh chuyên gia trong mắt công chúng.


Đôi lời giới thiệu

Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa họcTruyền thông khoa học (Science communication)Truyền thông khoa học là hoạt động trao đổi thông tin khoa học giữa các nhà khoa học, nhà truyền thông và công chúng, nhằm tạo ra nhận thức, sự quan tâm, ý kiến và hiểu biết về khoa học.Xem giải thích đầy đủ → và Thu hút Công chúngThu hút công chúng (Public engagement)Thu hút công chúng là quá trình tương tác và đối thoại hai chiều giữa các nhà nghiên cứu và công chúng, tạo ra lợi ích song phương và nâng cao chất lượng khoa học.Xem giải thích đầy đủ → (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].

Tài liệu tham khảo (9 nguồn)
  • Asr, F. T., Mazraeh, M., Lopes, A., Gautam, V., Gonzales, J., Rao, P., & Taboada, M. (2021). The Gender Gap Tracker: Using natural language processing to measure gender bias in media. PLOS ONE, 16(1), e0245533. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0245533
  • De Swert, K., & Hooghe, M. (2010). When do women get a voice? Explaining the presence of female news sources in Belgian news broadcasts (2003-5). European Journal of Communication, 25(1), 69-84. https://doi.org/10.1177/0267323109354229 (bản tác giả: https://medialibrary.uantwerpen.be/oldcontent/container2608/files/De%20Swert%20Hooghe%202010%20-%20When%20do%20women%20get%20a%20voice.pdf)
  • Kitzinger, J., Chimba, M. D., Williams, A., Haran, J., & Boyce, T. (2008). Gender, stereotypes and expertise in the press: How newspapers represent female and male scientists. UK Resource Centre for Women in Science, Engineering and Technology & Cardiff University. https://orca.cardiff.ac.uk/id/eprint/28633/
  • Macharia, S. (Ed.). (2021). Who makes the news? 6th Global Media Monitoring Project. World Association for Christian Communication. https://whomakesthenews.org/wp-content/uploads/2021/11/GMMP2020.ENG_.FINAL_.pdf
  • Ross Arguedas, A., Mukherjee, M., & Nielsen, R. K. (2025). Women and leadership in the news media 2025: Evidence from 12 markets. Reuters Institute for the Study of Journalism. https://reutersinstitute.politics.ox.ac.uk/women-and-leadership-news-media-2025-evidence-12-markets
  • Shor, E., van de Rijt, A., Ward, C., Blank-Gomel, A., & Skiena, S. (2014). Time trends in printed news coverage of female subjects, 1880-2008. Journalism Studies, 15(6), 759-773. https://doi.org/10.1080/1461670X.2013.834149 (bản tác giả: https://terpconnect.umd.edu/~pnc/working/Shor13JS.pdf)
  • Tuchman, G. (1978). Introduction: The symbolic annihilation of women by the mass media. Trong G. Tuchman, A. K. Daniels, & J. Benét (Eds.), Hearth and home: Images of women in the mass media. Oxford University Press. (Dẫn theo De Swert & Hooghe, 2010; Shor và cộng sự, 2014.)
  • United Nations. (n.d.). 50:50 The Equality Project. Partnerships for the SDGs. https://sdgs.un.org/partnerships/5050-equality-project
  • Vũ, T. H., Dương, T. H., Barnett, B., & Lee, T.-T. (n.d.). Báo chí và định kiến giới đối với lãnh đạo nữ [Báo cáo nghiên cứu]. Oxfam tại Việt Nam. https://cng-cdn.oxfam.org/vietnam.oxfam.org/s3fs-public/file_attachments/Full%20Report%20VN_0.pdf
Đào tạo & Cố vấn thực chiến

Cần giải pháp truyền thông hoặc đào tạo nội bộ cho tổ chức?

Dy Khoa sẵn sàng đồng hành cùng quý doanh nghiệp, cơ quan và trường đại học trong đào tạo báo chí – marcom, quản trị khủng hoảng và truyền thông khoa học – sức khoẻ.

Đặt lịch làm việc →
Gợi ý dành cho bạn

Đọc tiếp cùng chủ đề

Chia sẻ góc nhìn

Góc trao đổi & Bình luận

Để lại câu hỏi hoặc góc nhìn của bạn về bài viết. Bình luận văn minh, tôn trọng sự thật và tri thức khoa học.