Thường là chưa. Kết quả trên chuột là bước khởi đầu quan trọng, nhưng phần lớn liệu pháp được thử trên động vật không đi được đến khâu phê duyệt cho người: một phân tích năm 2024 trên 122 tổng quan hệ thốngTổng quan hệ thống (Systematic review)Tổng quan hệ thống là loại nghiên cứu cố gắng thu thập toàn bộ bằng chứng thực nghiệm đáp ứng các tiêu chí định trước để trả lời một câu hỏi cụ thể, bằng phương pháp tường minh, có hệ thống và nhằm giảm thiên lệch.Xem giải thích đầy đủ → cho thấy chỉ khoảng 5% liệu pháp được thử trên động vật được cơ quan quản lý chấp thuận (Ineichen và cộng sự, 2024). Vì vậy, tin “chất X chữa bệnh Y” dựa trên chuột chỉ nên xem là một giả thuyết đáng theo dõi.
Tóm tắt nhanh:
- Cứ 100 liệu pháp được thử trên động vật, khoảng 50 được thử tiếp trên người, 40 vào thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứngThử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (Randomized controlled trial)Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng là thiết kế nghiên cứu thực nghiệm trong đó người tham gia được phân ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp hoặc nhóm đối chứng để so sánh hiệu quả của các biện pháp can thiệp.Xem giải thích đầy đủ → và khoảng 5 được phê duyệt.
- Thiết kế thí nghiệm, con vật, liều dùng và thiên lệch xuất bản đều là rào cản.
- Khi thông cáo báo chíThông cáo báo chí (Press release)Thông cáo báo chí là văn bản một tổ chức soạn sẵn theo lối viết tin và gửi cho nhà báo để thông báo một sự kiện hay kết quả nghiên cứu, có trích dẫn phát ngôn và thông tin liên hệ để phóng viên tìm hiểu thêm.Xem giải thích đầy đủ → đã phóng đại từ động vật sang người, tin tức cũng dễ phóng đại theo.
- Trước khi chia sẻ, hãy tìm xem nghiên cứu được làm trên ai.
Vì sao các nhà khoa học vẫn thử nghiệm trên chuột?
Để tìm hiểu cơ chế trước khi bước sang người. Ineichen và cộng sự (2024) lưu ý nghiên cứu động vật thường tập trung vào cơ chế, còn nghiên cứu trên người tập trung vào hiệu quả. Khi được thử trên người, một liệu pháp thường đi qua giai đoạn I (20 đến 80 người, để xác định liều phù hợp và tác động lên cơ thể), giai đoạn II (100 đến 300 người) và giai đoạn III (1.000 đến 3.000 người) (NIH MedlinePlus Magazine, 2020).
Bao nhiêu kết quả trên động vật đi được đến người?
Khá ít. Ineichen và cộng sự (2024) đã phân tích 122 tổng quan hệ thống, bao phủ 54 bệnh và 367 liệu pháp. Họ thấy 50% liệu pháp được thử tiếp trong một nghiên cứu nào đó trên người, 40% đi đến thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, và 5% được phê duyệt (con số 5% tính trên các liệu pháp đã có hơn 10 năm phát triển). Với 100 liệu pháp ban đầu:
- 100 × 50% = 50 liệu pháp được thử trên người.
- 100 × 40% = 40 liệu pháp vào thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng.
- 100 × 5% = 5 liệu pháp được phê duyệt, tức khoảng 1 trên 20.
Nhóm tác giả cũng ghi nhận mức tương đồng khoảng 86% giữa kết quả tích cực trên động vật và trong nghiên cứu lâm sàng. Theo họ, tỷ lệ phê duyệt thấp cho thấy có thể còn thiếu sót trong thiết kế của cả nghiên cứu động vật lẫn thử nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu (Ineichen và cộng sự, 2024).
Vì sao kết quả trên chuột khó chuyển sang người?
Thiết kế thí nghiệm chưa chặt chẽ
Trong các tổng quan về nghiên cứu đột quỵ và một số bệnh khác trên động vật, thường chỉ khoảng một phần ba hoặc ít hơn số nghiên cứu báo cáo có phân nhóm ngẫu nhiên, và chỉ 0% đến 3% có tính cỡ mẫu từ trước. Với các nghiên cứu động vật trong lĩnh vực cấp cứu, những công bố không báo cáo phân nhóm ngẫu nhiên hoặc làm mù có odds (khả năng) báo cáo kết quả tích cực lớn hơn ba lần (van der Worp và cộng sự, 2010).
Con vật thí nghiệm khác người bệnh thật
Trong nghiên cứu đột quỵ, con vật hầu như luôn còn trẻ, ít khi là con cái; chỉ khoảng 10% nghiên cứu dùng con vật bị tăng huyết áp và dưới 1% dùng con vật bị đái tháo đường. Thuốc thường được cho sau trung vị chỉ 10 phút, điều không khả thi với người bệnh, và kết quả được đo sau 1 đến 3 ngày thay vì khoảng 3 tháng như ở người (van der Worp và cộng sự, 2010). Cùng nhóm tác giả ghi nhận khoảng 500 chiến lược “bảo vệ thần kinh” từng cải thiện kết cục ở động vật bị đột quỵ thiếu máu cục bộ, nhưng chỉ aspirin và thuốc tiêu sợi huyết alteplase dùng rất sớm được chứng minh có hiệu quả ở người bệnh (van der Worp và cộng sự, 2010).
Thiên lệch xuất bản
Kết quả “không có tác dụng” ít được công bố. Trong một phân tích gộpPhân tích gộp (Meta-analysis)Phân tích gộp là phương pháp kết hợp bằng thống kê kết quả của từ hai nghiên cứu riêng biệt trở lên, thường bằng trung bình có trọng số, để có ước tính chính xác hơn so với từng nghiên cứu đơn lẻ.Xem giải thích đầy đủ → 525 công bố về 16 can thiệp cho đột quỵ, thiên lệch xuất bản có thể chiếm khoảng một phần ba hiệu quả được báo cáo (van der Worp và cộng sự, 2010).
Liều dùng và cơ chế khác nhau
Saccharin là ví dụ kinh điển. Nghiên cứu phòng thí nghiệm từng liên hệ saccharin ở liều cao với ung thư bàng quang ở chuột cống, và chất này được đưa vào danh sách chất có thể gây ung thư của Chương trình Độc chất học Quốc gia Mỹ. Các nghiên cứu về cơ chế sau đó cho thấy cách saccharin gây ung thư ở chuột không áp dụng cho người, các nghiên cứu dịch tễ chưa thấy bằng chứng rõ ràng ở người, và năm 2000 saccharin được đưa ra khỏi danh sách (National Cancer Institute, 2023). Về chất tạo ngọt, bài nước ngọt zero calo có an toàn cho tim mạch điểm lại bằng chứng ở người.
Tin tức đã phóng đại nghiên cứu trên chuột ra sao?
Phóng đại trong tin tức gắn chặt với phóng đại trong thông cáo báo chí. Sumner và cộng sự (2014) phân tích 462 thông cáo báo chí của 20 trường đại học nghiên cứu hàng đầu nước Anh năm 2011 cùng 668 tin bài liên quan. Trong các thông cáo về nghiên cứu động vật, 36% có suy diễn phóng đại sang người. Khi thông cáo đã phóng đại, 86% tin bài cũng phóng đại; khi thông cáo không phóng đại, tỷ lệ này chỉ khoảng 10%. Phóng đại cũng không giúp thông cáo được đăng nhiều hơn một cách rõ rệt (Sumner và cộng sự, 2014). Khoảng cách này được bàn kỹ trong bài khoảng trống giữa phòng lab và truyền thông đại chúng.
Đọc tin “nghiên cứu mới” thế nào khi thấy chữ “chuột”?
Hãy đọc chậm lại và hỏi:
- Nghiên cứu làm trên tế bào, trên chuột hay trên người? Tiêu đề có lược mất chi tiết này không?
- Liều thí nghiệm so với lượng người thường dùng thế nào?
- Đã có thử nghiệm trên người chưa, và ở giai đoạn nào?
- Mỗi nhóm có bao nhiêu con vật hoặc bao nhiêu người? Bài nghiên cứu ít người tham gia tin được đến đâu giải thích vì sao điều này quan trọng.
- Kết quả được nói bằng phần trăm tương đối hay số người cụ thể? Xem thêm bài “tăng nguy cơ 50%” nghĩa là gì.
Một nghiên cứu đơn lẻ, dù trên người, cũng hiếm khi đủ để kết luận; xem bài một nghiên cứu mới có đủ để kết luận và chuyên đề Kiểm chứng thông tin khoa học để có thêm công cụ tự kiểm tra.
Câu hỏi thường gặp
Kết quả trên chuột có vô giá trị không?
Không. Chúng giúp hiểu cơ chế và khá tương đồng với kết quả lâm sàng (Ineichen và cộng sự, 2024). Vấn đề là đọc chúng như bằng chứng đã sẵn sàng cho người.
Một liệu pháp từ chuột cần bao lâu để đến với người bệnh?
Theo Ineichen và cộng sự (2024), thời gian trung vị từ nghiên cứu động vật đầu tiên đến khi được phê duyệt là 10 năm, và chỉ khoảng 1 trên 20 liệu pháp đi hết chặng đường này.
Làm sao biết bài báo nói về nghiên cứu trên động vật?
Đọc phần tóm tắt hoặc phương pháp của bài báo gốc. Vì phóng đại trong tin tức gắn chặt với phóng đại trong thông cáo báo chí (Sumner và cộng sự, 2014), hãy đối chiếu với bài báo gốc thay vì chỉ đọc thông cáo.
Điều gì nên nhớ?
Kết quả trên chuột là bước đầu, không phải đích đến. Hãy hỏi nghiên cứu làm trên ai, liều bao nhiêu và đã thử trên người chưa, trước khi thay đổi cách ăn uống hay dùng thuốc.
Bài viết mang tính thông tin, không thay thế tư vấn y khoa cho từng cá nhân.
Đôi lời giới thiệu
Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa họcTruyền thông khoa học (Science communication)Truyền thông khoa học là việc dùng kỹ năng, phương tiện, hoạt động và đối thoại phù hợp để tạo ra ở người nghe một hoặc nhiều phản hồi với khoa học: nhận biết, thích thú, quan tâm, hình thành quan điểm và hiểu biết.Xem giải thích đầy đủ → và Thu hút Công chúngThu hút công chúng (Public engagement)Thu hút công chúng là những cách thức để hoạt động và lợi ích của giáo dục đại học, nghiên cứu được chia sẻ với công chúng; theo NCCPE, đây là quá trình hai chiều, có tương tác và lắng nghe, nhằm tạo lợi ích cho cả hai bên.Xem giải thích đầy đủ → (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.
Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].
Tài liệu tham khảo (5 nguồn)
- Ineichen, B. V., Furrer, E., Grüninger, S. L., Zürrer, W. E., & Macleod, M. R. (2024). Analysis of animal-to-human translation shows that only 5% of animal-tested therapeutic interventions obtain regulatory approval for human applications. PLOS Biology, 22(6), e3002667. https://doi.org/10.1371/journal.pbio.3002667
- National Cancer Institute. (2023, ngày 29 tháng 8). Artificial sweeteners and cancer. https://www.cancer.gov/about-cancer/causes-prevention/risk/diet/artificial-sweeteners-fact-sheet
- NIH MedlinePlus Magazine. (2020, ngày 11 tháng 8). Is a clinical trial right for you? https://magazine.medlineplus.gov/article/is-a-clinical-trial-right-for-you
- Sumner, P., Vivian-Griffiths, S., Boivin, J., Williams, A., Venetis, C. A., Davies, A., Ogden, J., Whelan, L., Hughes, B., Dalton, B., Boy, F., & Chambers, C. D. (2014). The association between exaggeration in health related science news and academic press releases: Retrospective observational study. BMJ, 349, g7015. https://doi.org/10.1136/bmj.g7015
- van der Worp, H. B., Howells, D. W., Sena, E. S., Porritt, M. J., Rewell, S., O’Collins, V., & Macleod, M. R. (2010). Can animal models of disease reliably inform human studies? PLOS Medicine, 7(3), e1000245. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.1000245
- P-hacking là gì: Vì sao một nghiên cứu đạt ý nghĩa thống kê vẫn có thể sai?
- “Tăng nguy cơ 50%” nghĩa là gì? Nguy cơ tương đối và tuyệt đối
- Thử nghiệm trên chuột có áp dụng được cho người không?
- Nghiên cứu chỉ có 20 người tham gia thì tin được đến đâu?
- Tương quan và nhân quả khác nhau thế nào? Ví dụ dễ hiểu
Xem đủ 12 bài
- Làm sao biết thông tin khoa học trên mạng có đáng tin?
- Làm sao kiểm tra một nghiên cứu được chia sẻ trên mạng?
- Một nghiên cứu mới có đủ để kết luận điều gì đúng?
- Vì sao hai nghiên cứu có thể cho kết quả trái ngược nhau?
- Vì sao các nhà khoa học hay nói “chưa chắc chắn”?
- Vì sao đính chính tin sai không phải lúc nào cũng hiệu quả?
- P-hacking là gì: Vì sao một nghiên cứu đạt ý nghĩa thống kê vẫn có thể sai?
- “Tăng nguy cơ 50%” nghĩa là gì? Nguy cơ tương đối và tuyệt đối
- Thử nghiệm trên chuột có áp dụng được cho người không?
- Nghiên cứu chỉ có 20 người tham gia thì tin được đến đâu?
- Tương quan và nhân quả khác nhau thế nào? Ví dụ dễ hiểu
- Vì sao tin “nghiên cứu mới cho thấy” hay bị thổi phồng so với bài gốc?
Vì sao tin “nghiên cứu mới cho thấy” hay bị thổi phồng so với bài gốc?
Phóng đại trong tin khoa học thường bắt đầu từ thông cáo báo chí và cả bài báo gốc, rồi được nhân lên khi lên báo. Cách đọc tỉnh táo hơn.
Tương quan và nhân quả khác nhau thế nào? Ví dụ dễ hiểu
Hai thứ đi cùng nhau chưa chắc cái này gây ra cái kia. Phân biệt tương quan và nhân quả qua ví dụ thật về statin và beta-carotene.
Cần giải pháp truyền thông hoặc đào tạo nội bộ cho tổ chức?
Dy Khoa sẵn sàng đồng hành cùng quý doanh nghiệp, cơ quan và trường đại học trong đào tạo báo chí – marcom, quản trị khủng hoảng và truyền thông khoa học – sức khoẻ.


