RCT được xem là ‘tiêu chuẩn vàng’ để xác định mối quan hệ nhân quả trong y học chứng cứ (Beller et al., 2013). Xem bài Một nghiên cứu mới có đủ để kết luận?.
Sức mạnh của phân bổ ngẫu nhiên (Randomization)
Giúp triệt tiêu các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn giữa hai nhóm, bảo đảm rằng bất kỳ sự khác biệt nào về kết quả điều trị đều thực sự do can thiệp thuốc mang lại chứ không phải do sự may rủi về thể trạng ban đầu.
Quy chuẩn làm mù (Blinding)
Thử nghiệm mù đôi (cả bệnh nhân lẫn bác sĩ đánh giá đều không biết ai dùng thuốc thật, ai dùng giả dược) giúp loại bỏ hoàn toàn thiên kiến kỳ vọng tâm lý.
Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.
Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].
Tài liệu tham khảo
Beller, E. M., et al. (2013). PRISMA for Abstracts: Reporting systematic reviews in journal and conference abstracts. PLoS Medicine, 10(4), e1001419. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.1001419
Schulz, K. F., Altman, D. G., & Moher, D. (2010). CONSORT 2010 Statement: Updated guidelines for reporting parallel group randomised trials. BMJ, 340, c332. https://doi.org/10.1136/bmj.c332
Gợi ý tìm nhanh:
Đang tìm kiếm bài viết...
Không tìm thấy bài viết nào chứa từ khoá "". Hãy thử từ khoá khác nhé!
Bài viết đã lưu
Chưa có bài viết nào được lưu
Bấm biểu tượng chiếc thẻ bookmark trên các bài viết để lưu lại và đọc offline bất cứ khi nào bạn muốn.
Liên hệ Dy Khoa
Cần trao đổi về một bài viết, hợp tác hay phỏng vấn?
Để lại vài dòng, tôi sẽ phản hồi trong vòng 48 giờ. Phóng viên cần ý kiến chuyên gia gấp, vui lòng ghi rõ hạn chót trong nội dung.