Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương
Lý thuyết & Mô hình

Nhà khoa học có cần học truyền thông không?

Nhà khoa học có cần học truyền thông? Bằng chứng về lợi ích, rào cản và hiệu quả thật sự của việc đào tạo truyền thông.

Dy Khoa
Dy Khoa
Vừa
Tranh màu nước nhà khoa học trò chuyện với người dân bên bờ sông, minh họa nhà khoa học và truyền thông với công chúng

Có, nếu muốn kết quả nghiên cứu được công chúng hiểu và sử dụng. Khi nhà khoa học truyền thông về công việc của mình, kỹ năng nói rõ không tự nhiên mà có. Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Hoa Kỳ nhận định truyền thông khoa họcTruyền thông khoa học (Science communication)Truyền thông khoa học là việc dùng kỹ năng, phương tiện, hoạt động và đối thoại phù hợp để tạo ra ở người nghe một hoặc nhiều phản hồi với khoa học: nhận biết, thích thú, quan tâm, hình thành quan điểm và hiểu biết.Xem giải thích đầy đủ → hiệu quả là một nhiệm vụ phức tạp và là kỹ năng phải học mới có, trong khi rất ít nhà khoa học từng được đào tạo bài bản về việc này (National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine [NASEM], 2017). Học truyền thông không có nghĩa là ai cũng phải lên truyền hình, mà là biết mình nói để làm gì, nói với ai và nói thế nào cho rõ.

Tóm tắt nhanh:

  • Phần lớn nhà khoa học được khảo sát ở Mỹ và Anh đã có hoạt động tiếp xúc công chúng, nhưng tỷ lệ từng được đào tạo không cao.
  • Rào cản lớn nhất được nêu nhiều lần là thời gian dành cho nghiên cứu.
  • Đào tạo có thể thay đổi một số hành vi, như giảm thuật ngữ chuyên môn, nhưng không tự động khiến khán giả đánh giá cao hơn.
  • Nên học theo mục tiêu cụ thể và luyện tập với khán giả không chuyên.

Vì sao nhà khoa học nên quan tâm đến truyền thông?

Vì truyền thông khoa học phục vụ nhiều mục tiêu mà chỉ bài báo khoa học thì không đạt được. NASEM (2017) nêu năm mục tiêu: chia sẻ phát hiện và niềm hứng khởi của khoa học; tăng sự trân trọng đối với khoa học như một cách hiểu thế giới; tăng hiểu biết về khoa học liên quan đến một vấn đề cụ thể cần ra quyết định; tác động đến quan điểm, hành vi và lựa chọn chính sách khi bằng chứng đã rõ; và tương tác với các nhóm khác nhau để hiểu quan điểm của họ về khoa học liên quan đến những vấn đề xã hội quan trọng.

Báo cáo này cũng ghi nhận nhiều nhà khoa học muốn chia sẻ niềm say mê, một số cảm thấy có nghĩa vụ báo cáo với công chúng về những lợi ích mà công chúng đã trả tiền, và nếu nhà khoa học có nghĩa vụ nói về công việc của mình thì họ cũng có nghĩa vụ ngang bằng là lắng nghe công chúng (NASEM, 2017). Ý “lắng nghe” này gắn với sự chuyển dịch từ mô hình thâm hụt đến tham gia công chúng.

Nhà khoa học đang làm truyền thông đến mức nào?

Nhiều hơn người ta thường nghĩ. Khảo sát của Pew Research Center với 3.748 hội viên Hiệp hội Vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ (AAAS) tại Mỹ, thực hiện từ 11/9 đến 13/10/2014, cho thấy 87% cho rằng nhà khoa học nên đóng vai trò tích cực trong tranh luận chính sách công về các vấn đề khoa học, công nghệ. Có 51% có ít nhất một mức độ tiếp xúc với phóng viên về kết quả nghiên cứu, 47% dùng mạng xã hội để nói hoặc đọc về khoa học ít nhất thỉnh thoảng, và 24% viết blog về khoa học (Rainie và cộng sự, 2015).

Ở Anh, một nghiên cứu năm 2015 do nhóm 15 cơ quan tài trợ nghiên cứu công đặt hàng, khảo sát 2.454 nhà nghiên cứu, ghi nhận 82% đã thực hiện ít nhất một hình thức thu hút công chúngThu hút công chúng (Public engagement)Thu hút công chúng là những cách thức để hoạt động và lợi ích của giáo dục đại học, nghiên cứu được chia sẻ với công chúng; theo NCCPE, đây là quá trình hai chiều, có tương tác và lắng nghe, nhằm tạo lợi ích cho cả hai bên.Xem giải thích đầy đủ → trong 12 tháng trước đó; tỷ lệ này là 78% ở khối khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) và 88% ở khối nghệ thuật, nhân văn và khoa học xã hội (TNS BMRB & Policy Studies Institute, 2015). Nói cách khác, câu hỏi thực tế không còn là “có nên làm không” mà là “làm có hiệu quả không”.

Điều gì khiến nhà khoa học ngại làm truyền thông?

Rào cản lớn nhất là thời gian. Trong khảo sát năm 2006 của Hội Hoàng gia Anh với 1.485 nhà khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học tại Anh, 64% chọn lý do “tôi cần dành thêm thời gian cho nghiên cứu” (The Royal Society, 2006). Gần một thập kỷ sau, áp lực thời gian vẫn là rào cản lớn nhất, được 61% nhà nghiên cứu nêu ra (The Royal Society, 2015).

Lý do thứ hai là động lực nghề nghiệp chưa rõ. Năm 2006, chỉ 38% đồng ý rằng thu hút công chúng có thể giúp ích cho sự nghiệp của họ (The Royal Society, 2006). Báo cáo năm 2015 nhận xét nhiều tổ chức không có cơ chế chính thức để ghi nhận hoạt động thu hút công chúng, và một số nhà nghiên cứu cảm thấy hoạt động này có thể bị đồng nghiệp coi nhẹ (TNS BMRB & Policy Studies Institute, 2015). Ở Mỹ, 43% nhà khoa học trong khảo sát Pew cho rằng việc được báo chí đưa tin là quan trọng hoặc rất quan trọng cho sự thăng tiến trong chuyên ngành của họ (Rainie và cộng sự, 2015).

Lý do thứ ba là thiếu đào tạo. Năm 2006, 73% nhà khoa học được khảo sát chưa từng được đào tạo về truyền thông, làm việc với báo chí hay thu hút công chúng (The Royal Society, 2006). Năm 2015, 28% nhà nghiên cứu cho biết đã được đào tạo chính thức trong 5 năm gần nhất (TNS BMRB & Policy Studies Institute, 2015).

Học truyền thông có thật sự giúp nhà khoa học nói tốt hơn?

Có giúp, nhưng không phải phép màu. Capers và cộng sự (2022) theo dõi 29 học viên sau đại học ngành STEM qua một khóa truyền thông khoa học kéo dài một học kỳ, tổ chức mỗi năm một lần từ 2016 đến 2018. Sau khóa học, học viên dùng ít thuật ngữ chuyên môn hơn, nhưng việc dùng câu chuyện, ẩn dụ hay phép so sánh không tăng đáng kể. Khán giả không chuyên chấm phần trình bày của học viên không cao hơn so với trước khóa học.

Nghiên cứu này cũng cho thấy những phần trình bày có câu chuyện, ẩn dụ hoặc phép so sánh gắn với điểm rõ ràng cao hơn, và nụ cười gắn với điểm tin cậy, rõ ràng và cuốn hút cao hơn (Capers và cộng sự, 2022). Đây là tương quan, chưa phải quan hệ nhân quả. Ở tầm rộng hơn, NASEM (2017) cho rằng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để giúp người làm truyền thông khoa học xác định cách tiếp cận phù hợp. Vì vậy, học truyền thông nên được xem là một quá trình luyện tập có đo lường, không phải một chứng chỉ để đủ điều kiện.

Nhà khoa học nên bắt đầu học từ đâu?

Hãy bắt đầu từ mục tiêu, vì NASEM (2017) nhấn mạnh cách tiếp cận hiệu quả nhất phụ thuộc vào mục tiêu của người truyền thông. Từ các bằng chứng trên, có thể rút ra vài bước khởi đầu:

  • Xác định rõ mình muốn chia sẻ phát hiện, giúp công chúng ra quyết định, hay lắng nghe ý kiến của cộng đồng.
  • Rà soát và giảm thuật ngữ chuyên môn, vì đây là thay đổi mà đào tạo có thể tạo ra (Capers và cộng sự, 2022).
  • Tập dùng câu chuyện và phép so sánh một cách chính xác; bài kể chuyện khoa học có thể là điểm khởi đầu.
  • Luyện tập trước khán giả không chuyên và xin phản hồi thật, thay vì chỉ tự đánh giá.
  • Tham khảo khung kỹ năng cốt lõi của truyền thông khoa học để biết mình còn thiếu gì.

Câu hỏi thường gặp

Nhà khoa học không thích xuất hiện trước công chúng có cần học truyền thông không?

Vẫn nên học ở mức cơ bản. Truyền thông không chỉ là trả lời phỏng vấn; một trong năm mục tiêu NASEM (2017) nêu ra là tương tác với các nhóm khác nhau, tức là cả lắng nghe chứ không chỉ nói.

Có thể để bộ phận truyền thông của trường làm thay không?

Có thể chia sẻ việc, nhưng chưa có câu trả lời chung. NASEM (2017) xếp câu hỏi khi nào nhà khoa học nên trực tiếp truyền thông và khi nào người khác nên đảm nhận vào nhóm vấn đề cần nghiên cứu thêm.

Một khóa ngắn hạn có đủ không?

Khóa ngắn giúp bắt đầu, nhưng ngay cả một khóa kéo dài một học kỳ cũng không làm khán giả chấm điểm cao hơn trong nghiên cứu của Capers và cộng sự (2022). Điều quan trọng là luyện tập đều và có phản hồi.

Điều gì nên nhớ?

Nhà khoa học không bắt buộc phải trở thành người nổi tiếng, nhưng nên học truyền thông như học một kỹ năng nghề nghiệp: có mục tiêu, có luyện tập và có phản hồi. Bằng chứng cho thấy đào tạo thay đổi được một số thói quen, còn hiệu quả với khán giả cần được kiểm chứng tiếp. Các bài liên quan có trong chuyên đề Truyền thông khoa học: bắt đầu từ đâu?.

Muốn học bài bản hơn?

Nhà khoa học và người làm chuyên môn muốn luyện kỹ năng này có thể tham khảo các khóa học trực tuyến của Dy Khoa: Truyền thông khoa học cơ bản: Từ nghiên cứu đến công chúng và Truyền thông kỹ thuật cho công chúng: Từ chuyên môn đến thấu hiểu.


Đôi lời giới thiệu

Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].

Tài liệu tham khảo (6 nguồn)
  • Capers, R. S., Oeldorf-Hirsch, A., Wyss, R., Burgio, K. R., & Rubega, M. A. (2022). What did they learn? Objective assessment tools show mixed effects of training on science communication behaviors. Frontiers in Communication, 6, 805630. https://doi.org/10.3389/fcomm.2021.805630
  • National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine. (2017). Communicating science effectively: A research agenda. The National Academies Press. https://doi.org/10.17226/23674
  • Rainie, L., Funk, C., & Anderson, M. (2015, ngày 15 tháng 2). How scientists engage the public. Pew Research Center. https://www.pewresearch.org/internet/2015/02/15/how-scientists-engage-public/
  • The Royal Society. (2006). Survey of factors affecting science communication by scientists and engineers. https://iiif.wellcomecollection.org/file/b28517751_Full%20report.pdf
  • The Royal Society. (2015, ngày 2 tháng 12). Study shows majority of researchers are participating in public engagement. https://royalsociety.org/news/2015/12/researchers-public-engagement/
  • TNS BMRB & Policy Studies Institute. (2015). Factors affecting public engagement by researchers: A study on behalf of a Consortium of UK public research funders. https://www.publicengagement.ac.uk/sites/default/files/2023-08/wtp060033_0.pdf
Đào tạo & Cố vấn thực chiến

Cần giải pháp truyền thông hoặc đào tạo nội bộ cho tổ chức?

Dy Khoa sẵn sàng đồng hành cùng quý doanh nghiệp, cơ quan và trường đại học trong đào tạo báo chí – marcom, quản trị khủng hoảng và truyền thông khoa học – sức khoẻ.

Đặt lịch làm việc →
Gợi ý dành cho bạn

Đọc tiếp cùng chủ đề