Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương

Sci&Marcom Glossary Marcom & IMC

Tài sản thương hiệu (brand equity) là gì?

Tiếng Anh
Brand equity
Còn gọi là
giá trị thương hiệu, sức mạnh tài sản nhãn hiệu

David Aaker (1991) và Kevin Lane Keller (1993) đã đặt nền móng đo lường tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng (CBBE). Xem bài Dữ liệu người dùng và niềm tin thương hiệu.

Bốn thành tố của David Aaker

1. Nhận biết thương hiệu (Brand awareness).
2. Lòng trung thành thương hiệu (Brand loyalty).
3. Chất lượng cảm nhận (Perceived quality).
4. Liên tưởng thương hiệu (Brand associations).

Sức mạnh của tài sản thương hiệu

Cho phép doanh nghiệp định giá cao hơn (premium price), vượt qua các cơn bão khủng hoảng truyền thông và dễ dàng mở rộng sang các dòng sản phẩm mới.

Đôi lời giới thiệu

Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].

Tài liệu tham khảo

Aaker, D. A. (1991). Managing brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. Free Press.

Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of Marketing, 57(1), 1-22. https://doi.org/10.1177/002224299305700101