Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương

Sci&Marcom Glossary Nghiên cứu & bằng chứng

Bằng chứng giai thoại (anecdotal evidence) là gì?

Tiếng Anh
Anecdotal evidence
Còn gọi là
bằng chứng giai thoại, bằng chứng truyền miệng, bằng chứng kể chuyện, lời chứng thực, anecdotal evidence, anecdote, testimonial, narrative evidence

“Chị hàng xóm uống loại lá này và khỏi bệnh” là một câu chuyện có thật với người kể, nhưng chưa phải là bằng chứng cho thấy loại lá đó chữa được bệnh. Khi ta rút kết luận từ câu chuyện, trải nghiệm hay lời chứng thực của một vài người, ta đang dùng bằng chứng giai thoại. Cuốn Testing Treatments nhắc rằng giai thoại và trải nghiệm cá nhân có thể gây hiểu lầm nghiêm trọng, dù bộ não con người dường như dễ tiếp nhận những câu chuyện hấp dẫn (Evans và cs., 2011).

Vì sao giai thoại không đủ để kết luận?

Một trải nghiệm đơn lẻ không có nhóm để so sánh. Ta không biết người đó có tự khỏi hay không nếu không dùng gì, hoặc có bao nhiêu người khác dùng mà không khỏi. Evans và cs. (2011) nhấn mạnh rằng nếu không có những đánh giá công bằng, không thiên lệch, các phương pháp vô ích hoặc thậm chí có hại vẫn có thể được kê đơn. Cuốn sách lấy ví dụ thử nghiệm so sánh của James Lind về bệnh scorbut năm 1747 để minh họa giá trị của việc so sánh.

Giai thoại khác bằng chứng thống kê thế nào?

Phân tích gộp của Zebregs và cs. (2015) cho thấy hai loại bằng chứng tác động khác nhau:

  • Bằng chứng thống kê: ảnh hưởng mạnh hơn đến niềm tin và thái độ.
  • Bằng chứng kể chuyện: ảnh hưởng mạnh hơn đến ý định hành động.

Nhóm tác giả cho rằng bằng chứng thống kê gắn nhiều hơn với phản ứng lý trí, còn câu chuyện gắn với phản ứng cảm xúc (Zebregs và cs., 2015). Vì vậy, một lời chứng thực có thể thúc đẩy người nghe hành động dù không chứng minh được hiệu quả. Bài làm sao biết thông tin khoa học trên mạng có đáng tin gợi ý cách nhận diện.

Câu hỏi thường gặp

Có nên bỏ hẳn câu chuyện khỏi truyền thông khoa học?

Không. Câu chuyện có sức thúc đẩy hành động (Zebregs và cs., 2015). Điều quan trọng là câu chuyện minh họa cho một kết luận đã có bằng chứng tốt, chứ không thay thế bằng chứng. Xem bài kể chuyện khoa học.

Ca bệnh được báo cáo trên tạp chí có phải là giai thoại?

Một ca bệnh đơn lẻ cũng không có nhóm so sánh, nên chưa đủ để kết luận về hiệu quả. Muốn biết phương pháp có hiệu quả hay không vẫn cần các phép so sánh công bằng như Evans và cs. (2011) mô tả.

Đôi lời giới thiệu

Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].

Tài liệu tham khảo

Evans, I., Thornton, H., Chalmers, I., & Glasziou, P. (2011). Testing treatments: Better research for better healthcare (2nd ed.). Pinter & Martin. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK66204/

Zebregs, S., van den Putte, B., Neijens, P., & de Graaf, A. (2015). The differential impact of statistical and narrative evidence on beliefs, attitude, and intention: A meta-analysis. Health Communication, 30(3), 282-289. https://doi.org/10.1080/10410236.2013.842528 (bản mở: https://dare.uva.nl/id/4bdd4b08-7cb1-4194-b20d-ba83ea3a5779)