Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương
Nhật ký

Vì sao trẻ kể chuyện nhà với người lạ trong nhóm “Con ghét bố mẹ”?

"Con ghét bố mẹ" từ 40.000 lên 270.000 thành viên rất nhanh. Phân tích tâm lý truyền thông số: ẩn danh, lan truyền cảm xúc và chuẩn mực nhóm.

Dy Khoa
Dy Khoa
Vừa
Vì sao trẻ kể chuyện nhà với người lạ trong nhóm “Con ghét bố mẹ”?

Cuối tháng 9/2026, một nhóm Facebook có cái tên gây sốc bất ngờ thu hút hàng trăm nghìn người. Nhiều phụ huynh hoảng hốt, nhiều người vội kết luận “trẻ bây giờ bất hiếu”. Nhưng nếu nhìn bằng lăng kính tâm lý truyền thông số, câu hỏi đáng đặt ra không phải “vì sao con ghét bố mẹ”, mà là “vì sao con nói được với hàng nghìn người lạ điều chưa nói được với người sống cùng mình”.

Chuyện gì đã xảy ra?

Nhóm “Con ghét bố mẹ” không mới. Theo Báo Văn Hóa và Vietcetera, nhóm đã tồn tại trên Facebook từ năm 2021, chỉ đột ngột lan rộng từ cuối tháng 9/2026 (Ngọc Nguyễn, 2026; Bảo Anh, 2026).

Tốc độ tăng trưởng thành viên là điều đáng chú ý. Báo Tiền Phong ghi nhận nhóm có hơn 40.000 thành viên ngày 28/9 và khoảng 270.000 thành viên sáng 1/10, tức tăng gần bảy lần trong khoảng ba ngày (Đỗ Quyên & Trạch Dương, 2026). Riêng ngày 30/9, nhóm có thêm 4.693 bài viết mới, phần lớn đăng ở chế độ ẩn danh (Bảo Anh, 2026).

Nội dung không chỉ là lời trách cha mẹ. Các bài đăng xoay quanh việc bị so sánh với “con nhà người ta”, bị kiểm soát điện thoại, áp lực học hành, những trận cãi vã và cả những tổn thương kéo dài nhiều năm (Bảo Anh, 2026). Phụ huynh cũng đổ vào nhóm: người tò mò, người muốn hiểu con, người vào để tìm xem con mình có ở đó không (Ngọc Nguyễn, 2026).

Đây không phải “ổ bất hiếu”, nhưng cũng không phải nơi an toàn

Tôi cho rằng hiện tượng này cần được đọc như một sản phẩm truyền thông, không chỉ là chuyện đạo đức gia đình. Nó là điểm gặp nhau giữa một nhu cầu thật (được lắng nghe) và một môi trường được thiết kế để khuếch đại cảm xúc (mạng xã hội). Hiểu cơ chế ấy giúp người lớn tránh hai phản ứng sai: hoảng loạn rồi cấm đoán, hoặc lãng mạn hóa nhóm như “nơi chữa lành”.

Dưới đây là bốn cơ chế tâm lý truyền thông số giải thích vì sao nhóm bùng nổ, và vì sao nó vừa có ích vừa có rủi ro.

Cơ chế 1: Ẩn danh khiến người ta dễ nói thật, và cũng dễ nói quá

Nhà tâm lý học John Suler (2004) gọi hiện tượng này là hiệu ứng giải ức chế trực tuyến (online disinhibition effect): trên mạng, con người nói và làm những điều họ khó nói ngoài đời. Ông chỉ ra sáu yếu tố cộng hưởng, trong đó có ẩn danh, không nhìn thấy nhau, giao tiếp không đồng thời và cảm giác uy quyền bị thu nhỏ.

Áp vào nhóm “Con ghét bố mẹ”: trẻ đăng ẩn danh, không phải nhìn nét mặt cha mẹ, không sợ bị ngắt lời. Cha mẹ, thầy cô (những người có uy quyền) vắng mặt hoặc chỉ là một tài khoản ngang hàng. Đó là lý do nhiều em kể được những điều chưa từng nói ở nhà.

Nhưng cùng cơ chế ấy cũng làm lời nói dễ gay gắt hơn mức thực tế. Chữ “ghét” trên mạng chưa chắc phản ánh đúng cường độ cảm xúc ngoài đời. Người lớn đọc từng câu chữ theo nghĩa đen sẽ dễ hiểu sai.

Cơ chế 2: Cái tên gây sốc là chất xúc tác lan truyền

Một nghiên cứu phân tích hơn 563.000 tin nhắn trên mạng xã hội cho thấy mỗi từ ngữ mang cảm xúc đạo đức (như phẫn nộ, ghê tởm, xấu hổ) xuất hiện thêm trong một thông điệp làm khả năng lan truyền tăng khoảng 20% (Brady và cộng sự, 2017).

Cần lưu ý: nghiên cứu này thực hiện trên Twitter với các chủ đề chính trị gây tranh cãi, không phải về quan hệ gia đình tại Việt Nam. Vì vậy, đây là cơ chế tham chiếu, không phải bằng chứng trực tiếp. Tuy vậy, logic khá tương đồng: “Con ghét bố mẹ” là một cụm từ nén đầy cảm xúc đạo đức. Nó chạm vào giá trị hiếu thảo, khiến người đọc phản ứng ngay, chia sẻ ngay, kể cả chia sẻ để phản đối. PGS.TS Trần Thành Nam (Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội) cũng nhận định cái tên này mang sắc thái gây sốc, dễ kích thích tò mò và tập hợp những người đang tổn thương trong quan hệ gia đình (Thanh Mai, 2026).

Nói cách khác, một phần đáng kể trong 270.000 thành viên có thể đến vì tò mò và tranh luận, chứ không phải vì “ghét bố mẹ”. Vietcetera cũng lưu ý “đám đông” trong nhóm không hoàn toàn là con cái (Bảo Anh, 2026).

Cơ chế 3: Lượt thích dạy người ta cách bày tỏ cảm xúc

Rủi ro lớn nhất, theo tôi, không nằm ở một bài đăng giận dữ, mà ở vòng lặp phản hồi. Hai nghiên cứu trên 7.331 người dùng và 12,7 triệu tweet, cùng hai thí nghiệm hành vi, cho thấy khi một lời bày tỏ phẫn nộ nhận được nhiều tương tác tích cực, người dùng có xu hướng bày tỏ phẫn nộ nhiều hơn ở lần sau. Người dùng cũng điều chỉnh cách nói theo chuẩn mực chung của mạng lưới quanh mình (Brady và cộng sự, 2021).

Trong một nhóm mà lời kể càng đau, càng gay gắt thì càng nhận nhiều đồng cảm, trẻ có thể vô tình “học” rằng cách được lắng nghe là nói mạnh hơn. PGS.TS Trần Thành Nam cảnh báo đúng nguy cơ này: một cảm xúc nhất thời, nếu liên tục được bênh vực và củng cố, có thể dần trở thành cách nhìn tiêu cực hơn về mâu thuẫn gia đình (Thanh Mai, 2026). Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Hương Giang còn lưu ý khả năng người trẻ đang bức xúc trở thành đối tượng dễ bị tác động, thậm chí thao túng tâm lý (Đỗ Quyên & Trạch Dương, 2026).

Cơ chế 4: Câu chuyện riêng bị kéo ra trước đám đông

Khi cha mẹ, người lạ và báo chí cùng đổ vào, một lời tâm sự dành cho “những người hiểu mình” bỗng có thêm những khán giả mà người viết không hề nghĩ tới. Báo Văn Hóa chỉ ra rằng câu chuyện riêng có thể đổi nghĩa khi bị tách khỏi hoàn cảnh ban đầu: một ảnh chụp màn hình chỉ giữ vài dòng, mất đi phần trao đổi trước đó và những điều người viết chưa kể (Ngọc Nguyễn, 2026).

Hệ quả là lời kể chân thật vẫn có thể không đầy đủ, và cuộc trò chuyện dễ biến thành cuộc phân xử ai đúng ai sai. Tiền Phong ghi nhận lời tâm sự về áp lực học tập có thể nhận được an ủi, nhưng cũng có thể kéo theo phán xét “vô ơn, bất hiếu” (Đỗ Quyên & Trạch Dương, 2026). Với một đứa trẻ vừa lấy hết can đảm để nói, bị phán xét công khai có thể đẩy em trở lại im lặng.

Còn mặt tích cực? Có, và có bằng chứng

Sẽ thiếu công bằng nếu chỉ nhìn rủi ro. Tổng quan của Naslund và cộng sự (2016) về hỗ trợ đồng đẳng trực tuyến cho thấy kết nối với người có trải nghiệm tương tự giúp con người bớt cảm giác cô đơn, có thêm hy vọng và chia sẻ được cách đối phó. Ẩn danh cũng giúp người ta dám tìm kiếm thông tin. Đây là nhận định trong bối cảnh sức khỏe tâm thần, nhưng logic tương tự xuất hiện ở nhóm này: ThS Xã hội học Thanh Văn Vân cho rằng gặp người có trải nghiệm giống mình giúp người trẻ bớt thấy bị cô lập (Bảo Anh, 2026).

Tuy nhiên, chính tổng quan này cũng nêu các rủi ro: thông tin từ bạn đồng trang lứa khó kiểm chứng, bình luận thù địch, sự phụ thuộc vào các mối quan hệ trực tuyến (Naslund và cộng sự, 2016). Nghĩa là nhóm có thể là nơi trẻ được nghe, nhưng không thể thay thế người có chuyên môn hay gia đình.

Nhìn sang ASEAN: các nước láng giềng đang chọn hướng nào?

Hiện tượng này diễn ra đúng lúc khu vực đang siết trách nhiệm của nền tảng với trẻ em:

  • Indonesia ban hành Nghị định số 17/2025 (PP Tunas), hoãn quyền truy cập nền tảng có rủi ro cao đến 16 tuổi, dịch vụ rủi ro thấp hơn từ 13 tuổi, thực thi đầy đủ từ 28/3/2026 (Antara, 2026).
  • Malaysia áp dụng hai bộ quy tắc thuộc Đạo luật An toàn trực tuyến 2025 từ 1/6/2026: nền tảng mạng xã hội được cấp phép chỉ cho người từ 16 tuổi tạo tài khoản mới, phải xác minh tuổi, đánh giá rủi ro và tăng kiểm duyệt nội dung (The Vibes, 2026).

Tại Việt Nam, Báo Văn Hóa dẫn ý kiến TS, Luật sư Đặng Văn Cường: Luật Trẻ em 2016 bảo đảm quyền bày tỏ ý kiến của trẻ, nhưng quyền này không cho phép xâm phạm danh dự, đời tư hay dữ liệu cá nhân của người khác; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ 1/1/2026 bổ sung khung pháp lý (Thanh Mai, 2026).

Quan điểm của tôi: giới hạn độ tuổi và trách nhiệm nền tảng là cần thiết, nhưng không giải quyết được câu hỏi gốc. Một rào cản kỹ thuật có thể chặn trẻ khỏi một nhóm, chứ không làm biến mất nhu cầu được lắng nghe. Ông Ngô Hương Giang cũng cho rằng không nên chỉ dựa vào tư duy “không kiểm soát được thì cấm” (Đỗ Quyên & Trạch Dương, 2026). Khuyến cáo của Tổng Y sĩ Hoa Kỳ (U.S. Surgeon General, 2023) đi theo hướng tương tự: chưa thể kết luận mạng xã hội đủ an toàn cho trẻ, nhưng giải pháp phải đa bên, gồm gia đình, nhà trường, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp công nghệ.

Vậy người lớn nên làm gì?

Với cha mẹ:

  • Đừng “truy lùng” tài khoản của con rồi chất vấn công khai dưới bài đăng. Một cuộc trò chuyện riêng, bình tĩnh có ý nghĩa hơn (Ngọc Nguyễn, 2026).
  • Đọc chữ “ghét” như một tín hiệu, không phải bản án. Thử hỏi con đang giận điều gì, thay vì kể ngay mình đã hy sinh thế nào.
  • Lắng nghe không có nghĩa là đồng ý với mọi điều con nói. Ranh giới nằm ở hành vi, như TS Đào Lê Hòa An nhấn mạnh: trẻ có quyền tức giận, nhưng không phải mọi hành vi từ cơn giận đều được chấp nhận (Đỗ Quyên & Trạch Dương, 2026).

Với nhà trường: dạy kỹ năng nhận diện cảm xúc, diễn đạt bất đồng và nhận biết khi mình đang bị đám đông trên mạng tác động.

Với người quản trị nhóm và nền tảng: đặt quy tắc ứng xử từ đầu, gỡ nội dung kích động, xâm phạm đời tư, nhất là khi nhóm có đông trẻ em (Thanh Mai, 2026).

Nếu nghi ngờ trẻ bị bạo lực, xâm hại hoặc đang gặp nguy hiểm, có thể gọi Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, Tổng đài quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình 117, hoặc báo công an qua số 113 nếu nguy hiểm trước mắt (Thanh Mai, 2026).

Kết: một cái tên gây sốc, một câu hỏi cũ

“Con ghét bố mẹ” có thể chỉ là hiện tượng mạng vài tuần rồi lắng xuống. Nhưng các cơ chế làm nó bùng nổ (ẩn danh, cảm xúc lan truyền, phần thưởng từ lượt thích, câu chuyện riêng bị kéo ra trước đám đông) sẽ còn lặp lại ở nhóm tiếp theo, với cái tên tiếp theo.

Điều người lớn cần làm không phải là thắng cuộc tranh luận trong nhóm, mà là trở thành người mà con có thể nói thật cùng, không cần ẩn danh.


Đôi lời giới thiệu

Bài viết này viết dựa trên quan điểm của người viết, là Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].


Tài liệu tham khảo

Antara. (2026, ngày 5 tháng 3). Indonesia sets age limits on digital platforms to protect children. https://en.antaranews.com/news/407207/indonesia-sets-age-limits-on-digital-platforms-to-protect-children

Bảo Anh. (2026, ngày 6 tháng 10). “Con ghét bố mẹ” – Vì sao lại trở thành nơi một vài người trẻ cảm thấy được thấu hiểu hơn ở nhà? Vietcetera. https://vietcetera.com/vn/con-ghet-bo-me-vi-sao-lai-tro-thanh-noi-mot-vai-nguoi-tre-cam-thay-duoc-thau-hieu-hon-o-nha

Brady, W. J., McLoughlin, K., Doan, T. N., & Crockett, M. J. (2021). How social learning amplifies moral outrage expression in online social networks. Science Advances, 7(33), Article eabe5641. https://doi.org/10.1126/sciadv.abe5641

Brady, W. J., Wills, J. A., Jost, J. T., Tucker, J. A., & Van Bavel, J. J. (2017). Emotion shapes the diffusion of moralized content in social networks. Proceedings of the National Academy of Sciences, 114(28), 7313-7318. https://doi.org/10.1073/pnas.1618923114

Đỗ Quyên, & Trạch Dương. (2026, ngày 1 tháng 10). Gần 300.000 người sao lại trút giận trong nhóm ‘Con ghét bố mẹ’. Tiền Phong. https://tienphong.vn/gan-300000-nguoi-sao-lai-trut-gian-trong-nhom-con-ghet-bo-me-post1881015.tpo

Naslund, J. A., Aschbrenner, K. A., Marsch, L. A., & Bartels, S. J. (2016). The future of mental health care: Peer-to-peer support and social media. Epidemiology and Psychiatric Sciences, 25(2), 113-122. https://doi.org/10.1017/S2045796015001067

Ngọc Nguyễn. (2026, ngày 30 tháng 9). Nhóm “Con ghét bố mẹ”: Cha mẹ cũng vào tìm con. Báo Văn Hóa. https://baovanhoa.vn/gia-dinh/nhom-con-ghet-bo-me-cha-me-cung-vao-tim-con-270098.html

Suler, J. (2004). The online disinhibition effect. CyberPsychology & Behavior, 7(3), 321-326. https://doi.org/10.1089/1094931041291295

Thanh Mai. (2026, ngày 2 tháng 10). Đừng để tiếng nói bị cuốn vào “đám đông” trên mạng. Báo Văn Hóa. https://baovanhoa.vn/doi-song/dung-de-tieng-noi-bi-cuon-vao-dam-dong-tren-mang-270763.html

The Vibes. (2026, ngày 1 tháng 6). Landmark safety rules take effect as under-16s barred from social media accounts. https://www.thevibes.com/articles/news/123523/landmark-safety-rules-take-effect-as-under-16s-barred-from-social-media-accounts

U.S. Surgeon General. (2023). Social media and youth mental health: The U.S. Surgeon General’s advisory. U.S. Department of Health and Human Services. https://www.hhs.gov/surgeongeneral/reports-and-publications/youth-mental-health/social-media/index.html

Đào tạo & Cố vấn thực chiến

Cần giải pháp truyền thông hoặc đào tạo nội bộ cho tổ chức?

Dy Khoa sẵn sàng đồng hành cùng quý doanh nghiệp, cơ quan và trường đại học trong đào tạo báo chí – marcom, quản trị khủng hoảng và truyền thông khoa học – sức khoẻ.

Đặt lịch làm việc →
Gợi ý dành cho bạn

Đọc tiếp cùng chủ đề

Chia sẻ góc nhìn

Góc trao đổi & Bình luận

Để lại câu hỏi hoặc góc nhìn của bạn về bài viết. Bình luận văn minh, tôn trọng sự thật và tri thức khoa học.