Đồng hành cùng Viet Pride 2026 · Tôn trọng sự đa dạng, lan toả yêu thương

Sci&Marcom Glossary Nghiên cứu & bằng chứng

Tháp bằng chứng (hierarchy of evidence) là gì?

Tiếng Anh
Hierarchy of evidence
Còn gọi là
tháp bằng chứng, kim tự tháp bằng chứng, thứ bậc bằng chứng, cấp độ bằng chứng, mức độ bằng chứng, hierarchy of evidence, evidence pyramid, levels of evidence

Tháp bằng chứng (hierarchy of evidence) là công cụ xếp các thiết kế nghiên cứu theo khả năng cho câu trả lời đáng tin. Trung tâm Y học Thực chứng Oxford (CEBM) mô tả hệ thống cấp độ bằng chứng của mình là thứ bậc của “bằng chứng tốt nhất có thể có”, một lối tắt giúp người tìm kiếm bắt đầu từ loại nghiên cứu xếp cao nhất (Howick và cs., 2011).

Tháp bằng chứng gồm những tầng nào?

Với câu hỏi về lợi ích của một phương pháp điều trị, CEBM cho rằng tổng quan hệ thống các thử nghiệm ngẫu nhiên đã được chứng minh là cho câu trả lời đáng tin nhất. Thứ tự gợi ý từ trên xuống là (Howick và cs., 2011):

  • Tổng quan hệ thống
  • Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng
  • Nghiên cứu đoàn hệ
  • Loạt ca bệnh
  • Lập luận dựa trên cơ chế

Cách đọc tháp này khi gặp một nghiên cứu mới được trình bày trong bài một nghiên cứu mới có đủ để kết luận điều gì đúng.

Tháp bằng chứng có giới hạn gì?

Chính CEBM nhấn mạnh hệ thống cấp độ này không nhằm đưa ra phán xét cuối cùng về chất lượng bằng chứng. Sẽ có trường hợp bằng chứng “cấp thấp”, chẳng hạn một nghiên cứu quan sát cho hiệu quả rất lớn, mạnh hơn bằng chứng “cấp cao” như một tổng quan hệ thống chỉ gồm vài nghiên cứu với kết quả chưa rõ ràng (Howick và cs., 2011).

Hệ thống GRADE xử lý giới hạn này bằng cách cho thiết kế nghiên cứu chỉ là điểm xuất phát: bằng chứng từ thử nghiệm ngẫu nhiên khởi đầu ở mức cao, nghiên cứu quan sát khởi đầu ở mức thấp, sau đó có thể bị hạ hoặc nâng mức, ví dụ nâng khi hiệu quả rất lớn hoặc có quan hệ liều và đáp ứng (Guyatt và cs., 2008).

Câu hỏi thường gặp

Thử nghiệm ngẫu nhiên lúc nào cũng tốt hơn nghiên cứu quan sát?

Không phải lúc nào. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có nhiều hạn chế có thể bị hạ mức, còn nghiên cứu quan sát có thể được nâng mức trong những điều kiện nhất định (Guyatt và cs., 2008).

Ý kiến chuyên gia nằm ở đâu trong tháp?

Nhóm GRADE cho rằng việc xếp “ý kiến chuyên gia” thành một loại bằng chứng dễ gây nhầm lẫn (Guyatt và cs., 2008). Xem thêm bài làm sao biết thông tin khoa học trên mạng có đáng tin.

Đôi lời giới thiệu

Bài viết này được tổng hợp bởi Nguyễn Hoàng Anh Khoa (Dy Khoa), giảng viên Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang, và là người tốt nghiệp Thạc sĩ Truyền thông Khoa học và Thu hút Công chúng (Science Communication and Public Engagement) tại Universiti Malaya (UM), Malaysia. Đây là lĩnh vực chuyên môn cốt lõi mà anh được đào tạo bài bản và tiếp tục theo đuổi trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành nghề nghiệp.

Nếu bạn thấy bài viết có sai sót hoặc muốn góp ý, vui lòng gửi email về [email protected].

Tài liệu tham khảo

Guyatt, G. H., Oxman, A. D., Vist, G. E., Kunz, R., Falck-Ytter, Y., Alonso-Coello, P., & Schünemann, H. J. (2008). GRADE: An emerging consensus on rating quality of evidence and strength of recommendations. BMJ, 336(7650), 924-926. https://doi.org/10.1136/bmj.39489.470347.AD (bản mở: https://netherlands.cochrane.org/sites/netherlands.cochrane.org/files/uploads/GRADE_workshop/GRADE1BMJ2008.pdf)

Howick, J., Chalmers, I., Glasziou, P., Greenhalgh, T., Heneghan, C., Liberati, A., Moschetti, I., Phillips, B., & Thornton, H. (2011). The 2011 Oxford CEBM levels of evidence (introductory document). Oxford Centre for Evidence-Based Medicine. https://www.cebm.ox.ac.uk/resources/levels-of-evidence/levels-of-evidence-introductory-document